image banner
Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, tuyên sửa Bản án sơ thẩm
Ngày 04/03/2025, TAND Cấp cao tại Hà Nội đưa ra xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Triệu Thị N, về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điểm b Khoản 4, Khoản 5 Điều 251 BLHS, do có kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã đề nghị và được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ Kháng nghị số 451/QĐ-VKS ngày 25/12/2024 của VKSND tỉnh Thái Nguyên, tuyên sửa Bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo N 20 năm tù.

 

Ngày 04/03/2025, TAND Cấp cao tại Hà Nội đưa ra xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Triệu Thị N, về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại Điểm b Khoản 4, Khoản 5 Điều 251 BLHS, do có kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Thái Nguyên. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã đề nghị và được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ Kháng nghị số 451/QĐ-VKS ngày 25/12/2024 của VKSND tỉnh Thái Nguyên, tuyên sửa Bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo N 20 năm tù.

Trước đó, vào ngày 11/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã đưa ra xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Triệu Thị N và đồng phạm, tuyên bố bị cáo Triệu Thị N, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng Điểm b Khoản 4, Khoản 5 Điều 251; Điểm n, s Khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật hình sự, xử phạt Triệu Thị N: Tù chung thân. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thái Nguyên nhận thấy TAND tỉnh Thái Nguyên tuyên phạt như trên là quá nghiêm khắc so với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Bởi lẽ:

Thứ nhất: Đây là vụ án đồng phạm trong đó bị cáo T.Q.V có vai trò chính là người trực tiếp đi lấy ma túy mang về cho bị cáo N. đem đi bán, N. có vai trò đồng phạm với bị cáo V. Đối với số ma túy đem đi bán, N không biết khối lượng cụ thể là bao nhiêu. Bản án không đánh giá về vai trò của từng bị cáo là chưa đầy đủ, chưa đảm bảo trong việc phân hóa vai trò để có căn cứ áp dụng hình phạt.

Thứ hai: Bị cáo N không có tiền án, tiền sự. Về nhân thân, bị cáo N đã bị kết án nhưng về tội “Trộm cắp tài sản” không phải tội phạm về ma túy.

Thứ ba: Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra vụ án,  N đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đang mang thai. Vì vậy, N được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội là phụ nữ có thai”“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm n, s  Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phân tích ở trên thấy Bản án số 120/2024/HSST ngày 11 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Triệu Thị Nguyệt mức án Tù chung thân là quá nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Sau khi vụ án được xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên đã kịp thời báo cáo kết quả với Lãnh đạo VKSND tỉnh Thái Nguyên, nhận thấy việc áp dụng hình phạt tù chung thân đối với bị cáo N là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 451/QĐ-VKS, Kháng nghị phần hình phạt chính: Tù chung thân mà Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã tuyên xử đối với bị cáo Triệu Thị N tại Bản án hình sự sơ thẩm số 120/2024/HSST ngày 11 tháng 12 năm 2024.

 

 

Hứa Tùng Lâm