image banner
Vướng mắc áp dụng Công văn 64/2019 về xét giảm thời hạn chấp hành án tù
Chính sách tha tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù… là một trong những biện pháp quan trọng thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng trong pháp luật hình sự Việt Nam. Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015

Chính sách tha tù, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù… là một trong những biện pháp quan trọng thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng trong pháp luật hình sự Việt Nam. Khoản 1 Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định: “Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt”.

Nhằm thống nhất nhận thức và áp dụng quy định này, ngày 03/4/2019 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Công văn số 64/2019/TANDTC-PC (gọi tắt là Công văn 64) thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính, trong đó có hướng dẫn nội dung: “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” được hiểu là “đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự” theo bản án, quyết định của Tòa án.

Tuy nhiên, trong thực tiễn xét giảm án hiện nay, nhiều bản án hình sự tuyên đồng thời nhiều loại nghĩa vụ dân sự, bao gồm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ. Việc áp dụng tiêu chí “đã bồi thường được ít nhất 1/2 nghĩa vụ dân sự” trong những trường hợp này đang phát sinh những cách hiểu và áp dụng khác nhau, đặc biệt là đối với nghĩa vụ cấp dưỡng trong bản án hình sự, gây ra không ít khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn khi xét giảm án, tha tù…

Theo quy định của Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ nhằm bảo đảm điều kiện sinh hoạt thiết yếu cho người không có khả năng tự nuôi sống mình, được thực hiện định kỳ, kéo dài trong tương lai, phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện của người có nghĩa vụ và nhu cầu của người được cấp dưỡng.

Trong các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, đặc biệt là những vụ án có hậu quả làm chết người, Tòa án thường tuyên đồng thời: Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, cấp dưỡng một lần…) và nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ cho thân nhân của người bị hại (cha, mẹ già; con chưa thành niên).

Vấn đề phát sinh ở đây là: khi áp dụng Điều 63 Bộ luật Hình sự và Công văn số 64, nghĩa vụ cấp dưỡng có được coi là đối tượng để áp dụng tiêu chí “đã bồi thường được ít nhất 1/2 nghĩa vụ dân sự” hay không? Và nếu có thì xác định “1/2” như thế nào đối với một nghĩa vụ không xác định được tổng giá trị cũng như thời điểm kết thúc việc thực hiện nghĩa vụ của phạm nhân để xem xét tại thời điểm xét giảm án?

Trong thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, tha tù…tác giả gặp tình huống điển hình sau:

Phạm nhân A bị kết án 07 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, hậu quả làm chết người. Bản án hình sự có hiệu lực pháp luật tuyên:

- Buộc A bồi thường thiệt hại về tính mạng cho gia đình bị hại số tiền 210.000.000 đồng;

- Buộc A có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho cha, mẹ già của bị hại và hai con chưa thành niên của bị hại, mức cấp dưỡng cụ thể theo từng người, kể từ thời điểm người bị hại chết cho đến khi người được cấp dưỡng chết hoặc con đủ 18 tuổi.

Sau khi bản án có hiệu lực, A và gia đình đã nộp đủ 100% số tiền bồi thường thiệt hại theo bản án. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định chưa có điều kiện thi hành án, do A đang chấp hành hình phạt tù, không có thu nhập ổn định.

Quá trình chấp hành án, A có thái độ cải tạo tốt, được xếp loại khá, đủ điều kiện về thời gian để đề nghị giảm án. Tuy nhiên, khi lập hồ sơ xét giảm án, cơ quan có thẩm quyền cho rằng A chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nên chưa đủ điều kiện giảm án theo Điều 63 BLHS và Công văn số 64.

Tình huống trên cho thấy, mặc dù phạm nhân đã thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ bồi thường dân sự có giá trị xác định, nhưng vẫn không được xem xét tha tù, giảm án chỉ vì chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau trong thực tiễn.

Từ tình huống nêu trên, có thể thấy rõ sự khác biệt cơ bản giữa hai loại nghĩa vụ dân sự được tuyên trong bản án hình sự:

- Nghĩa vụ bồi thường dân sự là nghĩa vụ có giá trị cụ thể, xác định ngay tại thời điểm tuyên án. Có thể lượng hóa chính xác mức độ đã thực hiện. Phù hợp với tiêu chí định lượng “đã bồi thường được ít nhất 1/2 nghĩa vụ dân sự” theo Công văn số 64.

- Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ mang tính định kỳ, lâu dài. Thời gian thực hiện kéo dài trong tương lai, phụ thuộc vào tuổi thọ, điều kiện sống của người được cấp dưỡng. Không xác định được tổng giá trị tại thời điểm xét giảm án.

Vì vậy, việc áp dụng tiêu chí “đã bồi thường được ít nhất 1/2 nghĩa vụ dân sự” đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là khó khả thi về mặt kỹ thuật lập pháp, đồng thời chưa phù hợp với bản chất của nghĩa vụ này. Nếu hiểu theo hướng phải thực hiện xong một tỷ lệ nhất định nghĩa vụ cấp dưỡng thì trong nhiều trường hợp, người chấp hành án hầu như không bao giờ đủ điều kiện tha tù, giảm án, nhất là đối với những nghĩa vụ cấp dưỡng kéo dài hàng chục năm.

Thực tiễn hiện nay cho thấy đang tồn tại hai quan điểm:

Quan điểm thứ nhất cho rằng nghĩa vụ cấp dưỡng cũng là nghĩa vụ dân sự, nên nếu chưa thực hiện thì chưa đáp ứng điều kiện tại Điều 63 BLHS.

Quan điểm thứ hai cho rằng chỉ nghĩa vụ bồi thường dân sự có giá trị xác định mới là đối tượng áp dụng tiêu chí “đã bồi thường được ít nhất 1/2 nghĩa vụ dân sự”, còn nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ nên xem xét ở góc độ ý thức chấp hành pháp luật, không phải điều kiện cứng khi xét giảm án, tha tù.

Sự thiếu thống nhất này xuất phát từ việc Công văn số 64 chưa làm rõ phạm vi áp dụng đối với nghĩa vụ cấp dưỡng, cũng như chưa hướng dẫn thứ tự, cách thức xem xét các loại nghĩa vụ dân sự khi áp dụng Điều 63 BLHS.

Vì vậy, cùng một trường hợp cụ thể nhưng kết quả xét giảm án, tha tù giữa các cơ quan, các địa phương hoặc các đợt xét giảm án, tha tù có thể khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi hợp pháp của người chấp hành án và làm giảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật.

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng:

Một là, cần có hướng dẫn thống nhất theo hướng khi áp dụng Điều 63 BLHS và Công văn số 64, tiêu chí “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” chỉ áp dụng đối với nghĩa vụ bồi thường dân sự có giá trị xác định, không áp dụng máy móc đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.

Hai là, đối với nghĩa vụ cấp dưỡng, khi xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, cần xem xét ở góc độ ý thức, thái độ chấp hành nghĩa vụ, khả năng thi hành án và kết quả xác minh của cơ quan thi hành án dân sự, thay vì coi đây là điều kiện định lượng bắt buộc.

Ba là, trong thời gian chưa có hướng dẫn cụ thể, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý giam giữ cần tăng cường trao đổi, thống nhất nhận thức nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật được công bằng, nhân đạo và đúng bản chất.

Việc áp dụng Công văn số 64 trong xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với trường hợp bản án có tuyên nghĩa vụ cấp dưỡng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, hướng dẫn. Làm rõ phạm vi áp dụng tiêu chí “đã bồi thường được ít nhất 1/2 nghĩa vụ dân sự không chỉ góp phần bảo đảm quyền, lợi hợp pháp của người chấp hành án, mà còn nâng cao hiệu quả, tính thống nhất và nhân văn của chính sách tha tù, giảm án trong pháp luật hình sự Việt Nam.

                                      Tác giả: Lan Anh - Phòng 8 VKSND tỉnh Thái Nguyên