Phòng 9, VKSND tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Tòa án tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm số hóa vụ án HNGĐ: “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”
Thực hiện Chương trình công tác năm 2025, của Phòng 9, Viện KSND tỉnh Thái Nguyên. Ngày 16/05/2025, Phòng 9 đã phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, tổ chức phiên tòa xét xử dân sự rút kinh nghiệm trực tuyến có số hóa hồ sơ vụ án “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.
Thực hiện Chương trình công tác năm 2025, của Phòng 9, Viện KSND tỉnh Thái Nguyên. Ngày 16/05/2025, Phòng 9 đã phối hợp với Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, tổ chức phiên tòa xét xử dân sự rút kinh nghiệm trực tuyến có số hóa hồ sơ vụ án “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”.
- Nguyên đơn: Anh Dương Văn Thành, sinh năm 1992
Trú tại: Xóm Nón, xã Nhã Lộng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện ủy quyền: ông Dương Văn Tân, sinh năm 1966 cùng địa chỉ với nguyên đơn.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1995
Trú tại: Xóm Hòa Bình, xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Kiểm sát viên kiểm sát xét xử: Đồng chí Lê Thị Hương Giang, Kiểm sát viên trung cấp Phòng 9.
Kháng cáo của bị đơn chị Hà trong hạn Luật định, đã nộp tạm ứng án phí, đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm
Căn cứ trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ xác định.
Nguồn gốc tài sản chung của anh Thành, chị Hà đề nghị chia sau ly hôn là do bố anh Thành cho khi 2 vợ chồng còn chung sống. thửa số 1867, tờ bản đồ số 03, diện tích 216m2 đất trồng cây lúa nước có vị trí tại xóm Nón, xã Nhã Lộng, huyện Phú Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên anh Thành chị Hà. Sau khi được cấp GCNQSD đất thì anh Thành, chị Hà không sử dụng canh tác tại thửa đất này vì anh Thành, chị Hà vẫn ở chung với gia đình ông Tân và đi làm công nhân.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, anh Thành, ông Tân đề nghị được giao thửa đất số 1867 cho anh Thành canh tác, vì hiện nay anh Thành không có việc làm, ở nhà làm ruộng với bố mẹ. Anh Thành phải có trách nhiệm trích chia bằng tiền có giá trị bằng ½ diện tích thửa đất theo quy định của pháp luật cho chị Hà.
Tòa án sơ thẩm đã căn cứ nguồn gốc của thửa đất, công việc hiện tại của anh Thành, chị Hà giao thửa đất số 1867 cho anh Thành quản lý sử dụng, anh Thành phải có trách nhiệm trích chia bằng tiền có giá trị bằng ½ diện tích thửa đất cho chị Nguyễn Thị Hà theo giá đất 8.100.000 đồng (đã được hội đồng định giá ngày 31/10/2024 các đương sự không có khiếu nại) là có căn cứ.
Chị Hà kháng cáo cho rằng không có chỗ ở, anh Thành không góp phí tổn nuôi con đề nghị được chia ½ diện tích đất trồng lúa nước trên là không phù hợp thực tế bởi đất trồng lúa không làm được nhà ở, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự chị làm đơn gửi cơ quan thi hành án theo quy định của pháp luật. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị Hà.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Thành tự nguyện hỗ trợ chị hà 10.000.000đ.
Trên cơ sở phát biểu, đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đã Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Hà- sửa một phần bản án sơ thẩm số 02/2025/ HNGĐ- ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (Ghi nhận anh Thành tự nguyện hỗ trợ chị Hà 10.000.000đ)
Với việc Phòng 9 lựa chọn vụ án xét xử rút kinh nghiệm đã đảm bảo đúng tiêu chí quy định của ngành, cùng với trình chiếu các tài liệu số hóa tại phiên tòa đã phản ánh đầy đủ trình tự tố tụng, các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập và đương sự cung cấp để làm rõ chứng cứ, căn cứ phục vụ việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật. Nên quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đã được Hội đồng xét xử chấp nhận do vậy đã nâng cao và khẳng định rõ vai trò, vị thế của Viện kiểm sát trong kiểm sát xét xử vụ án dân sự. Đồng thời việc tổ chức phiên tòa dân sự xét xử rút kinh nghiệm trực tuyến có trình chiếu tài liệu số hóa hồ sơ đã mang lại hiệu quả sâu rộng và thiết thực đối với cán bộ, Kiểm sát viên trong việc tự đào tạo nâng cao kỹ năng kiểm sát xét xử và sử dụng công nghệ thông tin trong công tác, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp trong tình hình mới.