image banner
Thông báo rút kinh nghiệm trong kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại
Qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo thủ tục phúc thẩm, giữa: Nguyên đơn Ngân hàng A với Bị đơn: Công ty TNHH B, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo thủ tục phúc thẩm, giữa: Nguyên đơn Ngân hàng A với Bị đơn: Công ty TNHH B, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm không giải quyết hết yêu cầu khởi kiện, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự, cần thông báo rút kinh nghiệm, cụ thể như sau:

1. Nội dung vụ án

Ngân Hàng A đã ký kết Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đối với Công ty B với hạn mức tín dụng là 1.400.000.000 đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng). Quá trình thực hiện, công ty B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết:

1. Buộc Công ty B trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/6/2024) là 1.710.076.508 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 19.024.658 đồng; nợ lãi quá hạn là 287.599.315 đồng, phạt chậm trả lãi là 3.452.535 đồng.

Công ty B còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận kể từ ngày 04/06/2024 đến ngày trả hết nợ.

2. Nếu Công ty B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ.

3. Bên bảo lãnh là bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả thay cho Bên được cấp tín dụng các khoản nợ khi bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 26/8/2021.

          2. Quá trình giải quyết của Tòa án

Tại bản án số 20/2024/KDTM-ST ngày 03/6/2024 của TAND thành phố P đã quyết định:

“1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân Hàng A, đối với Công ty B.

2. Buộc Công ty B phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền cả gốc và lãi là 1.706.623.973 đồng, trong đó: nợ gốc: 1.400.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 19.024.658 đồng; nợ lãi quá hạn: 287.599.315 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ACB tính kể từ ngày 04/06/2024 đến ngày trả hết nợ.

Trong trường hợp Công ty B không thực hiện được nghĩa vụ trả khoản nợ vay nêu trên thì Ngân Hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án Dân sự kê biên phát mại tài sản bảo đảm thửa đất số 179 tờ bản đồ số 69 diện tích 2690m² tại phường H, thành phố P thuộc quyền sở hữu, sử dụng chị Nguyễn Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 647868 do UBND thành phố P cấp ngày 23/10/2015. Đăng ký sang tên cho chị Nguyễn Thị T tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P ngày 16/08/2021 để xử lý thu hồi khoản nợ.

Trường hợp số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân Hàng thì Công ty B vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân Hàng cho đến khi thanh toán song khoản nợ…”.

Ngoài ra còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án của các đương sự trong vụ án.

Sau khi kết thúc phiên Tòa sơ thẩm, do không giải quyết hết các yêu cầu khởi kiện, Nguyên đơn- Ngân hàng A có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án với lý do: HĐXX không chấp nhận đối với việc Ngân hàng yêu cầu Công ty B thanh toán số tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/6/2024) là 3.452.535 đồng và tiếp tục phải chịu số tiền phạt chậm trả lãi phát sinh kể từ ngày 04/6/2024; Yêu cầu bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả nợ thay công ty Trung Đức các khoản nợ khi bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 26/8/2021.

Ngày 27/9/2024, TAND tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử theo trình tự phúc phẩm. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên Tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng A; sửa một phần bản án sơ thẩm số 20/2024/KDTM-ST ngày 03/6/2024 của TAND thành phố P.

3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm

3.1 Trong vụ án này, ngay từ khi khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, nguyên đơn- Ngân hàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu công ty B phải trả số tiền lãi phạt chậm trả lãi là 3.452.535 đồng và nghĩa vụ chịu lãi phạt chậm trả lãi kể từ ngày tiếp sau ngày xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, trong phần nhận định cũng như quyết định của Bản án, Hội đồng xét xử đã không nhận định và không quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đối với nội dung yêu cầu này của Ngân hàng.

3.2 Nguyên đơn còn có yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị T thực hiện cam kết đã bảo lãnh. Quá trình giải quyết, Hội đồng xét xử đã có nhận định trong Bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu này của Nguyên đơn nhưng lại không quyết định nội dung này trong Bản án.

Việc Toà án cấp sơ thẩm không nhận định và không quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đối với yêu cầu Công ty B thanh toán số tiền lãi phạt chậm trả lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (03/6/2024) là 3.452.535 đồng và nghĩa vụ trả lãi kể từ ngày tiếp sau ngày xét xử sơ thẩm; có nhận định đối với yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị T thực hiện cam kết bảo lãnh nhưng không quyết định trong Bản án là chưa giải quyết hết yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5; khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Phòng 10 đã tham mưu cho Lãnh đạo VKSND tỉnh ban hành Thông báo đến VKSND các huyện, thành phố cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tương tự.