Kinh nghiệm giải quyết vướng mắc từ một vụ án cố ý gây thương tích
Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án “Cố ý gây thương tích”. Tỷ lệ thương tích là một vấn đề hết...
Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ án “Cố ý gây thương tích”. Tỷ lệ thương tích là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc định tội hoặc định khung hình phạt đối với người phạm tội. Trên thực tế có những vụ việc có 2 kết luận giám định khác nhau trên cùng một đối tượng giám định dẫn đến thay đổi khung hình phạt áp dụng xử lý đối với người phạm tội. Việc đánh giá, lựa chọn kết luận giám định nào để truy tố, xét xử còn gặp nhiều vướng mắc mà không có quy phạm pháp luật phù hợp để vận dụng dẫn đến việc giải quyết vụ án đi vào vướng mắc. Trong phạm vi bài viết này tác giả muốn đưa ra một vụ án cụ thể để bạn đọc tham khảo.
* Nội dung vụ án: Do mâu thuẫn giữa hai gia đình ông A và ông B cùng trú tại tổ x, TT CH, Huyện HĐ nên sáng ngày 29/9/2010 vợ ông A là bà Lê Thị K và vợ ông B là bà Hứa Thị Q sinh năm 1958 đã cãi chửi nhau tại chợ NV, TT CH. Biết tin sự việc này, khi thấy bà K đi qua trước cổng nhà mình, ông B đã xông ra túm cổ áo bà K đe doạ hành hung, nhưng được nhiều người can ngăn nên sự việc chấm dứt. Sau đó bà K đã làm đơn đề nghị tổ dân phố giải quyết.
Vào khoảng 20h cùng ngày, tổ hoà giải gồm các thành phần có thẩm quyền của tổ dân phố x, TT CH đã mời vợ chồng ông A và ông B đến Hội trường để tiến hành hoà giải theo quy định. Quá trình làm việc đến khoảng 21h50 phút trong khi tổ hoà giải đang lập biên bản làm việc thì ông A phát biểu “nếu xin lỗi theo kiểu người Trung Quốc thì phải quỳ xuống”. Thấy ông A nói thế, ông B đã đứng lên cầm chiếc ô ở tay chỉ vào mặt ông A và nói “mày là gì mà tao phải quỳ xuống xin lỗi mày”. Do vậy, giữa hai bên đã xảy ra lớn tiếng cãi chửi nhau. Lúc này V là con trai ông A đứng ngoài hội trường xem hoà giải đã dùng điện thoại di động gọi điện cho anh trai là T nói “anh ra đi ông B bà Q đang trấn áp đòi đánh bố mẹ”. Đồng thời V chạy ra ngoài hội trường nhặt được một đoạn gậy gỗ tròn dài khoảng 50 cm, đường kính khoảng 2,5 cm lao vào hội trường vụt một nhát vào đầu ông B. Thấy V đánh ông B, bà Q nhặt được một hòn đã ném về phía V, bị bà Q ném V đã quay sang dùng gậy vụt vào người bà Q. T nhận được điện thoại của em trai đã đi xe máy một mình ra hội trường, trên đường đi T nhặt được 01 đoạn gậy gỗ dài khoảng 40 – 50 cm, to khoảng 3 – 4 cm, dày 1,5 cm (loại gỗ dùng để đóng trên mái nhà). Đến nơi, thấy trong hội trường đang xảy ra ẩu đả, T liền cầm gậy xông vào vụt 02 nhát vào người bà Q và 01 nhát vào lưng ông B. V tiếp tục dùng gậy đánh liên tiếp vào người ông B và bà Q đến khi mọi người có mặt ở đó can ngăn, ông B, bà Q bỏ chạy khỏi hội trường thì sự việc mới chấm dứt. V và T đi về nhà ông A, trên đường về cả hai đã vứt hai chiếc gậy dùng để đánh ông B và bà Q tại rìa đường. Ông B được đưa đi cấp cứu Bệnh viện huyện HĐ sau đó chuyển lên điều trị tại Bệnh viện đa khoa TW NT từ ngày 30/9 đến ngày 01/10/2010 thì chuyển đến điều trị tại Bệnh viện lão khoa TW 15 ngày. Còn bà Q đi cấp cứu và cầm máu tại Bệnh viện huyện HĐ rồi chuyển lên điều trị tại Bệnh viện Đa khoa TW NT từ 01h ngày 30/9 đến ngày 26/10/2010 thì ra viện.
Tại bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa TW NT xác định ông B bị các dấu vết thương sau:
-Vết thương rách da đầu vùng đỉnh dài 06 cm.
– Đụng dập phần mềm ở mô cái và ngón I tay trái.
Tại bệnh án của Bệnh viện đa khoa TW NT xác định bà Q bị các dấu vết thương sau:
– Gãy 1/3 trên xương quay tay trái.
– Gãy xương đốt bàn V tay trái.
– Gan phải có u máu nhỏ (vỡ gan).
– Có nhiều vết bầm tím ở khắp người, vùng thượng vị dài 15 cm.
– Có vết rách da ở đầu và cổ chân phải.
Tại Bản giám định của Tổ chức giám định y pháp tỉnh NT đã kết luận: Tỷ lệ thương tật của ông B là 06 % xếp loại thương tật vĩnh viễn.
Tại Bản kết luận giám định của Tổ chức giám định y pháp tỉnh NT đã kết luận: Tỷ lệ thương tật của bà Q là 30% xếp loại thương tật vĩnh viễn.
Ngày 23/5/2011 Tòa án nhân dân huyện HĐ đã đưa vụ án ra xét xử. Do ông B và bà Q kháng cáo nên hồ sơ vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân tỉnh NT.
Quá trình xét xử phúc thẩm đối với vụ án, hai người bị hại là ông B và Bà Q đề nghị được giám định lại tỷ lệ thương tích. Đề nghị của ông B và bà Q được Hội đồng xét xử chấp nhận và ra quyết định trưng cầu giám định lại.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích (lại lần 1) của Viện pháp y quốc gia, kết luận tỉ lệ thương tật toàn bộ của ông B là 06% (xếp hạng thương tật vĩnh viễn).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích (lại lần 1) của Viện pháp y quốc gia, kết luận tỉ lệ thương tật toàn bộ của bà Q là 32% (xếp hạng thương tật vĩnh viễn).
Hội đồng xét xử phúc thẩm đã quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung, theo hướng cần trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với ông B và xem xét lại khung hình phạt đối với các bị cáo để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Do kết luận của hai Cơ quan giám định trên có sự mâu thuẫn về cùng một vấn đề cần giám định, mặt khác hai bị can trong vụ án cũng có đơn khiếu nại về kết luận giám định lại và đề nghị giám định lại lần 2 đối với thương tật của bà Q. Ngày 31/10/2011 Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ đã ra Quyết định trưng cầu giám định lại lần 2. Bộ y tế đã có Quyết định thành lập Hội đồng giám định lại lần 2, yêu cầu bà Q trực tiếp đến Viện pháp y TW để làm các thủ tục giám định thương tật lại lần 2. Cơ quan CSĐT đã nhiều lần làm việc với bà Q thông báo và giải thích theo nội dung trên cùng Công văn số: xx/PYQG-GĐ ngày 14/5/2012 của Viện pháp y quốc gia, nhưng bà Q đã không đồng ý trực tiếp đi giám định lại lần 2, nên việc giám định lại lần 2 đối với bà Q, Hội đồng giám định lại lần 2 không thực hiện được.
Theo đề nghị của ông B, ngày 04/10/2011 Cơ quan CSĐT Công an huyện HĐ đã ra Quyết định trưng cầu giám định giám định pháp y tâm thần đối với ông B. Để phục vụ cho việc giám định, Tổ chức giám định pháp y tâm thần tỉnh NT yêu cầu ông B bắt buộc nằm theo dõi nội trú tại Bệnh viện tâm thần tỉnh NT. Tuy nhiên, cơ quan CSĐT đã nhiều lần làm việc giải thích với ông B về nội dung yêu cầu trên, nhưng ông B chỉ đồng ý trực tiếp đến giám định mà không đồng ý nằm theo dõi nội trú tại Bệnh viện tâm thần tỉnh NT. Do đó việc giám định pháp y tâm thần đối với ông B không thực hiện được.
Do bà Q không đi giám định và việc giám định không thực hiện được với ông B. Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Viện Pháp Y Quốc Gia giải thích bổ sung kết luận giám định vì có sự khác nhau về kết quả giám định trên cùng 1 vấn đề giám định. Viện Pháp Y Quốc gia có công văn với nội dung: giữ nguyên kết luận và kết luận của Viện pháp y Quốc Gia không phủ nhận kết quả của Tổ chức giám định y Pháp tỉnh NT. Việc kết luận căn cứ vào quy định của Chuyên ngành theo đề nghị của cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh NT.
Như vậy về kết luận giám định tỷ lệ thương tích có 02 kết luận khác nhau về tỷ lệ, hai kết luận này dẫn đến việc vận dụng quy định tại điều 104 BLHS ở hai khoản khác nhau. (Kết luận của Tổ chức giám định y pháp tỉnh NT 30% hành vi của V và T phạm khoản 2; Kết luận của Viện pháp y Quốc Gia hành vi của V và T phạm khoản 3). Hai kết luận giám định đều do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, không phủ định lẫn nhau, và đều có giá trị pháp lý theo quy định của Luật giám định tư pháp.
Vấn đề ở đây là: Cơ quan tiến hành tố tụng huyện HĐ căn cứ vào kết luận giám định nào để truy tố, xét xử đối với V và T.
+ Người bị hại và người bào chữa cho những người bị hại đề nghị xử lý theo kết luận 32% đối với bà Q.
+ Các bị can và người bào chữa đề nghị được xử lý theo kết luận 30% đối với bà Q vì như vậy mới có lợi cho bị can theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
Trước vấn đề trên các cơ quan tiến hành tố tụng huyện HĐ có quan điểm cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì căn cứ kết luận 30% để kết thúc điều tra đề nghị truy tố đối với V và T theo khoản 2 điều 104 BLHS.
Người bào chữa của người bị hại đưa ra quan điểm “Nguyên tắc có lợi được quy định ở đâu”?
Về chính sách pháp luật Hình sự Việt Nam thì “những quy định có lợi cho bị can, bị cáo thì được áp dụng”. Nhưng quy phạm pháp luật thì phải được quy định trong Bộ luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn áp dụng. Tuy nhiên trong Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn áp dụng không có quy định cụ thể về nguyên tắc có lợi nên không có căn cứ về điều luật để áp dụng.
Vậy giải quyết trường hợp này như thế nào?
Qua nghiên tài liệu chứng cứ thu thập được và đánh giá chứng cứ đối với Kết luận giám định của Tổ chức giám định y Pháp tỉnh NT và kết luận giám định lại lần 1 đối với bà Q của Hội đồng giám định của Viện pháp y quốc gia. Cơ quan tiến hành tố tụng huyện HĐ xác định:
– Kết luận giám định của Viện pháp y quốc gia đã xem xét và giám định thêm đối với tổn thương 1/3 giữa xương quay trái, tuy cal liền tốt, nhưng gây “tổn thương cảm giác dây thần kinh quay trái” nên kết luận thương tật của bà Q là 32%. Kết luận trên là có căn cứ, có cơ sở khoa học để làm căn cứ giải quyết vụ án. Do vậy, kết luận giám định 32% được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn làm căn cứ xử lý đối với vụ án theo quy định của pháp luật và vụ án đến nay đã được điều tra, truy tố,xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Bài học kinh nghiệm đối với vụ án nêu trên là:
– Cần xem xét cụ thể, chi tiết những thương tích của người bị hại qua các tài liệu thu thập được, đề nghị của người bị hại. Từ đó đối chiếu với các nội dung mà cơ quan giám định xem xét đưa ra kết luận giám định.
– Cần đề xuất bổ sung hướng dẫn cụ thể về “Nguyên tắc có lợi” trong các quy định của pháp luật hình sự.
Vũ Thành Trung
Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình