Một số điểm mới của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
Thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện công tác kiểm sát đối với Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Sau hơn 8 năm thi hành, Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã bộc lộ một số hạn chế
Thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện công tác kiểm sát đối với Quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Sau hơn 8 năm thi hành, Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đã bộc lộ một số hạn chế, bên cạnh đó nhiều quy định pháp luật liên quan đến Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13 đã được sửa đổi, bổ sung, nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật phòng chống ma túy năm 2021. Do đó, nhiều quy định của Pháp lệnh 09/2014 không còn phù hợp, cần được sửa đổi để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Ngày 13/12/2022, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (gọi tắt là Pháp lệnh 03/2022) thay thế Pháp lệnh 09/2014/UBTVQH13.
Một số điểm mới của Pháp lệnh số 03/2022 so với Pháp lệnh số 09/2014
Thứ nhất về bố cục: Pháp lệnh số 03/2022 gồm có 05 chương, 44 điều, so với Pháp lệnh số 09/2014 tăng 02 điều (5 chương, 42 điều).
Thứ hai về nội dung: Pháp lệnh số 03/2022 có một số điểm mới sau đây:
1. Về thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Điều 3 Pháp lệnh 03/2022 bổ sung thẩm quyền của TAND cấp huyện nơi người bị đề nghị có hành vi vi phạm trong trường hợp người đề nghị là Trưởng Công an cấp huyện, Giám đốc công an cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2, Điều 99, khoản 2 Điều 101, khoản 1 Điều 100, khoản 1 Điều 102 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
2. Về hình thức tổ chức phiên họp, khoản 1 Điều 21 Pháp lệnh 03/2022 bổ sung quy định về việc tổ chức phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính có thể được tổ chức theo hình thức trực tuyến;
3. Về chi phí, lệ phí, Pháp lệnh 03/2022 bổ sung quy định về chi phí, lệ phí trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Điều 7 của Pháp lệnh quy định các loại chi phí, lệ phí trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, trách nhiệm chi trả; Chi phí trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về chi phí tố tụng; Lệ phí cấp bản sao giấy tờ, sao chụp tài liệu tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật về án phí và lệ phí Tòa án.
4. Về căn cứ đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Pháp lệnh bổ sung điểm h khoản 1 Điều 16 về trường hợp Thẩm phán quyết định đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi người bị đề nghị mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên. Theo đó, tại Điều 16 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có một trong các căn cứ sau:
- Hết thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Người bị đề nghị đã chết;
- Người bị đề nghị không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 92, khoản 1 Điều 94 hoặc khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Người bị đề nghị thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 92, khoản 2 Điều 94 hoặc khoản 2 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
- Người đề nghị rút đề nghị;
- Người bị đề nghị đã có bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với hành vi bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
- Người bị đề nghị đang chấp hành hình phạt tù, đang chờ chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
- Người bị đề nghị mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên.
* Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Hành vi vi phạm pháp luật của người bị đề nghị có dấu hiệu tội phạm và Tòa án phải chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xem xét hoặc người bị đề nghị đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đó;
- Khi phát sinh tình tiết mới về tình trạng sức khỏe, tâm thần của người bị đề nghị và cần yêu cầu người đề nghị tiến hành trưng cầu giám định.
* Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày lý do tạm đình chỉ quy định tại khoản 2 Điều 16 Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15 không còn thì Tòa án ra quyết định tiếp tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
Hoặc quyết định đình chỉ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh 03/2022/UBTVQH15.
5. Về phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Pháp lệnh 03/2022 quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án. Theo đó, tại điểm h, khoản 3 Điều 21, điểm g khoản 3 Điều 35 Pháp lệnh quy định việc tranh luận được tiến hành theo sự điều hành của Thẩm phán. Người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác. Thẩm phán tiến hành phiên họp không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho họ tranh luận, trình bày hết ý kiến; có quyền yêu cầu dừng những ý kiến không liên quan đến vụ việc hoặc ý kiến lặp lại.
6. Bổ sung biện pháp giáo dục tại điểm k khoản 3 Điều 21 Pháp lệnh 03/2022 quy định biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng để thay thế cho biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 140a của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
7. Quy định về thủ tục thân thiện khi giải quyết vụ việc đối với người chưa thành niên bị đề nghị đưa vào trường giáo dưỡng tại khoản 4 Điều 21 Pháp lệnh có quy định “Phòng họp được bố trí thân thiện, an toàn”. Phòng họp thân thiện, an toàn đã được quy định tại Điều 6 của Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28/7/2017 của TANDTC về Phòng xử án. Theo đó, khi xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà người bị đề nghị là người chưa thành niên, Tòa án sẽ tổ chức tại Phòng xử án và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên như: Phiên họp được bố trí trên cùng một mặt phẳng, sắp xếp theo hình thức bàn tròn; Người dưới 18 tuổi được ngồi cạnh người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; Bàn, ghế được thiết kế theo kiểu dáng bàn, ghế văn phòng. Như đã trình bày ở trên, theo điểm h khoản 3 Điều 21, điểm g khoản 3 Điều 35 của Pháp lệnh thì người bị đề nghị, người đại diện hợp pháp của người bị đề nghị (nếu có); cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị tranh luận các vấn đề có liên quan với người đề nghị hoặc người được ủy quyền. Việc tranh luận được tiến hành theo sự điều hành của Thẩm phán. Người tham gia tranh luận có quyền đối đáp lại ý kiến của người khác. Thẩm phán tiến hành phiên họp không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho họ tranh luận, trình bày hết ý kiến; có quyền yêu cầu dừng những ý kiến không liên quan đến vụ việc hoặc ý kiến lặp lại. Như vậy, tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính Thẩm phán sẽ là người điều hành tranh luận, và thứ tự từng người tranh luận nhằm bảo đảm phiên họp được diễn ra thuận lợi, phù hợp từng vụ việc nhất định.
8. Về thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án: Pháp lệnh số 03 quy định thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị dài hơn so với Pháp lệnh 09 (Từ 03 ngày làm việc lên 05 ngày làm việc), cụ thể:
Đối với thời hạn khiếu nại của người có quyền khiếu nại là là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trường hợp người có quyền khiếu nại vắng mặt tại phiên họp hoặc trường hợp Tòa án không mở phiên họp và ra quyết định mà Pháp lệnh này quy định được quyền khiếu nại đối với quyết định đó thì thời hạn khiếu nại là 05 ngày làm việc kể từ ngày người có quyền khiếu nại nhận được quyết định của Tòa án. Trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn khiếu nại (khoản 1 Điều 32 Pháp lệnh 03).
Đối với thời hạn kiến nghị, kháng nghị là 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trường hợp Tòa án không mở phiên họp và ra quyết định mà Pháp lệnh này quy định được quyền kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định đó thì thời hạn kiến nghị, kháng nghị là 05 ngày làm việc kể từ ngày người có quyền kiến nghị, kháng nghị nhận được quyết định của Tòa án. Trước đây, Pháp lệnh số 09 quy định thời hạn kiến nghị, kháng nghị là 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định nhưng Pháp lệnh số 03 quy định thời hạn kiến nghị, kháng nghị tính từ ngày nhận được quyết định của Tòa án (khoản 2 Điều 32 Pháp lệnh 03).
9. Về thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại hành vi của người có thẩm quyền của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính:
Tại Điều 42 Pháp lệnh 03 cũng được quy định cụ thể, rõ ràng hơn so với Pháp lệnh số 09. Đối với khiếu nại hành vi của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân Cấp cao trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ xem xét, giải quyết. Trước đây Pháp lệnh 09 quy định khiếu nại hành vi của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh do chính Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết (khoản 2 Điều 41 Pháp lệnh 09).
10. Về quy định chuyển tiếp (Điều 44 Pháp lệnh 03): Pháp lệnh 03 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2023. Đối với những vụ việc đã được TAND cấp huyện thụ lý, giải quyết theo quy định tại Pháp lệnh 09 nhưng đến ngày 01 tháng 02 năm 2023 chưa kết thúc thì tiếp tục áp dụng quy định của Pháp lệnh số 09 để xem xét, giải quyết cho đến khi kết thúc vụ việc, trừ các nội dung quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 44 Pháp lệnh 03. Đối với những vụ việc đã được Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo quy định của Pháp lệnh số 09 mà có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị thì từ ngày 01 tháng 02 năm 2023 TAND cấp tỉnh giải quyết theo Pháp lệnh số 09, trừ các nội dung quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 44 thì áp dụng quy định của Pháp lệnh 03.