NỘI DUNG VỤ ÁN NHƯ SAU:
Nguyễn Thị R sinh năm 1963, trú tại xóm C, xã B, Thị xã S, tỉnh TN. Từ năm 2010 đến năm 2013,...
NỘI DUNG VỤ ÁN NHƯ SAU:
Nguyễn Thị R sinh năm 1963, trú tại xóm C, xã B, Thị xã S, tỉnh TN. Từ năm 2010 đến năm 2013, R được bầu làm trưởng xóm C và được chủ tịch UBND xã B công nhận tại quyết định số 06/QĐ-UBND, ngày 28/03/2010. Năm 2011, UBND thị xã S triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới và cho phép xã B được xây dựng một số công trình đường bê tông theo phương thức UBND thị xã cấp đối ứng 60% vốn đầu tư, 40 % vốn do dân tự đóng góp với yêu cầu đảm bảo lòng đường rộng 5 mét thì mới được lập hồ sơ thiết kế công trình đường bê tông. Sau khi có chủ trương trên, UBND xã đã triển khai đến các xóm thuộc diện được xây dựng đường bê tông, trong đó có xóm C do R làm trưởng xóm. Nguyễn Thị R đã tổ chức họp xóm phổ biến và vận động các hộ dân hiến đất và đóng góp kinh phí làm đường được các hộ dân nhất trí. Theo thiết kế dự toán kinh phí được ủy ban nhân dân thị xã S phê duyệt là 895.000.000 đ, trong đó UBND thị xã cấp đối ứng 131 tấn xi măng và 230.000.000đ, số còn lại do dân đóng góp. Trên cơ sở đó R đã tổ chức họp xóm, bầu ra ban xây dựng và thống nhất thu 500.000đ/01 nhân khẩu. Trong xóm có tổng số 398 nhân khẩu tương đương với số tiền phải thu là 199.000.000đ.
Ngày 13/12/2012, chủ tịch UBND xã B đã ký quyết định số 169/QĐ-UB thành lập đội xây dựng do xóm C cử ra gồm một số người có uy tín trong xóm là các thành viên trong đội xây dựng và ký hợp đồng kinh tế số 165/HĐ-KT với đại diện xóm C là Nguyễn Thị R, giá trị hợp đồng là 895.000.000đ (Gồm 760.000.000đ dự toán xây lắp, 28.000.000 chi khác và 108.000.000đ dự phòng). Cùng ngày R đại diện cho đội xây dựng của xóm ký hợp đồng kinh tế với bà Dương Thị Việt là đơn vị trực tiếp thi công xây dựng với giá 470.000đ/1m3 bê tông, tổng giá trị hợp đồng là 210.560.000đ.
Trong quá trình thi công làm đường bê tông, R là người trực tiếp quản lý mọi hoạt động chi tiêu của xóm, không mở sổ sách kế toán theo dõi theo đúng quy định, chỉ cập nhật vào sổ sách do R trực tiếp quản lý, kể cả các thành viên trong đội xây dựng cũng không nắm được. Công trình được khởi công từ ngày 13/12/2012, đến ngày 16/01/2013 thì hoàn thành. Tại biên bản nghiệm thu công trình ngày 16/01/2013, xác định hạng mục công trình đưa vào vận hành có chiều dài 744 mét, chiều rộng 03 mét, độ dầy 0,2 mét. Quá trình thi công, nghiệm thu và thanh quyết toán công trình, R không có thủ đoạn gì nhằm chiếm đoạt tài sản của tập thể. Cho đến ngày 26/01/2013, xóm C, xã B tổ chức đại hội bầu trưởng xóm mới, Nguyễn Thị R không được bầu làm trưởng xóm nữa, ông Đồng Văn Tuân sinh năm 1966 được bầu giữ chức vụ trưởng xóm nhiệm kỳ 2013 – 2015, thay R. Sau đại hội, tuy không giữ chức vụ trưởng xóm nữa, nhưng R vẫn được giao đi rút số tiền đối ứng do UBND thị xã cấp theo dự toán còn lại tại kho bạc thị xã, tổng số tiền là 114.495.000đ, trong tổng số 230.000.000đ. Khi rút được tiền đối ứng về R trực tiếp trả cho bà Việt đơn vị thi công đường bê tông số tiền còn nợ lại trong giai đoạn thi công, công trình là 80.000.000đ, còn lại 34.495.000đ, lẽ ra phải bàn giao cho ông Tuân, trưởng xóm mới, nhưng R đã nảy sinh ý định muốn chiếm đoạt số tiền trên, nên R đã tự ý giữ lại. Khi ông Đồng Văn Tuân trưởng xóm mới yêu cầu kiểm kê tài chính và bàn giao sổ sách, R nói đã chi hết tiền.
Để thực hiện ý đồ chiếm đoạt tài sản, R đã trực tiếp sửa chữa một số khoản chi phí trong sổ theo dõi của mình như: Chữa khoản chi 600.000đ thành 6.000.000đ (Nâng khống 5.400.000đ). Chữa khoản chi 400.000đ thành 2.400.000đ (Nâng khống 2.000.000đ). Chữa giấy biên nhận tiền thanh toán máy xúc từ 3.300.000đ lên thành 13.300.000đ (Nâng khống 10.000.000đ). Ngoài ra R còn khai khống mua thêm 9 tấn xi măng trong quá trình thi công, công trình với tổng số tiền là 9.900.000đ.
Như vậy trong tổng số tiền 34.495.000đ, R đang giữ, thì R đã sửa chữa chứng từ và khai khống mua thêm 9 tấn xi măng để nâng khống số tiền 27.300.000đ, còn lại 7.195.000đ, quá trình kiểm tra, R không giải trình được. Qua kiểm tra đối chiếu sổ sách thu chi tài chính của Nguyễn Thị R, Trưởng xóm mới và ban thanh tra nhân dân xóm đã xác định Nguyễn Thị R còn nợ quỹ của xóm số tiền 34.495.000đ, yêu cầu R bàn giao sổ sách và nộp lại số tiền R đang chiếm giữ, nhưng R không nộp. Vụ việc đươc lãnh đạo xóm trình báo lên Ủy ban nhân dân xã, qua nhiều lần triệu tập R đến UBND xã để làm việc, yêu cầu R bàn giao sổ sách và nộp lại số tiền R đang chiếm giữ cho trưởng xóm mới, nhưng R vẫn không bàn giao và nộp lại tiền. Vụ việc được Đảng Ủy, ủy ban nhân dân xã trình báo lên các cơ quan chức năng của thị xã S. Vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử.
Qua nội dung vụ án nêu trên, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về đường lối xử lý và vấn đề định tội danh đối với Nguyễn Thị R:
1 – Quan điểm thứ nhất: Nguyễn Thị R phạm tội: “Tham ô tài sản”, quy định tại điều 278 BLHS, vì: Nguyễn Thị R là người có chức vụ, quyền hạn (Vừa là trưởng xóm, vừa là người trực tiếp quản lý toàn bộ mọi hoạt động thu chi tài chính của xóm), trong việc thi công, công trình đường bê tông của xóm, R cũng đứng ra ký hợp đồng và trực tiếp thanh toán các khoản chi phí. Số tiền 34.495.000 R chiếm đoạt nằm trong số tiền quyết toán công trình đường bê tông và đang do R quản lý.
2 – Quan điểm thứ hai: Nguyễn Thị R phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điều 140 BLHS, với lập luận: Tuy R là người có chức vụ quyền hạn, quản lý mọi hoạt động thu chi tài chính của xóm, nhưng trong thời gian làm trưởng xóm và thời gian thi công, công trình đường bê tông, R không có ý thức chiếm đoạt tài sản. Khi không được bầu làm trưởng xóm nữa, nhưng R vẫn được xóm cử đi rút số tiền đối ứng do UBND thị xã cấp cho xóm để hỗ trợ làm đường bê tông số tiền còn lại là 114.495.000đ, khi rút được tiền, R trả nợ tiền thi công công trình đường bê tông còn nợ là 80.000.000đ, còn lại 34.495.000đ, lẽ ra phải hoàn trả cho xóm, nhưng vì không được bầu làm trưởng xóm nữa, R mới nảy sinh ý thức chiếm đoạt số tiền trên. Nên R mới sửa chữa chứng từ, mục đích là để hợp thức hóa việc chi tiêu hết số tiền R đang chiếm giữ (Ý thức chiếm đoạt nảy sinh khi R không còn là người có chức vụ quyền hạn nữa).
3 – Quan điểm thứ ba: Hành vi của Nguyễn Thị R chưa đến mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đây chỉ là vụ kiện dân sự, mà nguyên đơn dân sự là ông trưởng xóm C mới được bầu thay R. Số tiền 34.495.000đ R chưa trả cho quỹ của xóm, chỉ cần giải quyết bằng vụ kiện dân sự, chưa đến mức phải giải quyết bằng vụ án hình sự.
Theo quan điểm của chúng tôi thì Nguyễn Thị R phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 140 BLHS và đồng ý với đánh giá nhận xét theo quan điểm thứ 2.
Vậy chúng tôi xin nêu để các bạn cùng nghiên cứu xem xét và góp ý kiến./.
Người viết: Nguyễn Thị Hoàng Anh
Đơn vị công tác: Phòng 3 – VKSND tỉnh Thái Nguyên