image banner
Việc đánh giá chứng cứ không khách quan Trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, Dẫn đến quyết định giải quyết vụ án kiện về: “Hợp đồng lao động” không chính xác cần rút kinn nghiệm
I.Nội dung vụ án và kết quả giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm. Bà Trịnh Thị Hà có trình độ chuyên môn trung cấp tin học, ngày...

I.Nội dung vụ án và kết quả giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

Bà Trịnh Thị Hà có trình độ chuyên môn trung cấp tin học, ngày 01/12/2003 có ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty phát triển khu công nghiệp Thái Nguyên, với nhiệm vụ văn thư, đánh máy. Trong quá trình công tác thì  bà Hà còn được phân công thêm nhiệm vụ làm thủ kho và thủ quỹ của Công ty. Từ ngày 01/6/2010 đến ngày 30/9/2013 bà Hà được phân công giữ các chức trách, nhiệm vụ như: Phụ trách Phòng và Trưởng phòng Tổ chức hành chính.

Ngày 10/8/2012, UBND tỉnh Thái Nguyên có Quyết định số: 1769/QĐ-UBND về việc thành lập công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên (gọi tắt là Công ty) trên cơ sở chuyển đổi Công ty phát triển khu công nghiệp Thái Nguyên. Do thay đổi cơ cấu hoạt động của công ty, nên công tác bổ nhiệm lại chức danh quản lý phải đảm bảo đầy đủ các tiêu chí: Trong đó có tiêu chí về trình độ chuyên môn, nên bà Hà không được giữ chức vụ lãnh đạo quản lý nữa. Từ ngày 01/10/2013, bà Hà được giao nhiệm vụ làm nhân viên phòng hành chính tổng hợp.

Ngày 13/8/2014, Giám đốc công ty ban hành quyết định số 311/QĐ-HTKCN giao nhiệm vụ cho bà Hà làm nhân viên tạp vụ, quá trình thực hiện công việc mới, bà Hà thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ và nghỉ chế độ thai sản. Sau khi hết thời gian nghỉ thai sản, ngày 27/4/2015 bà Hà tiếp tục đến công ty làm việc. Bà Hà tiếp tục làm công việc tạp vụ như trước, nhưng bà Hà đã không nhận nhiệm vụ được giao. Trong ngày 27/4/2015, Giám đốc công ty ban hành Quyết định số 187/QĐ-HTKCN chấm dứt hợp đồng lao động với bà Trịnh Thị Hà theo khoản 10 Điều 36 Bộ luật lao động và thanh toán các chế độ theo quy định, mặc dù không đồng ý với quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty nhưng bà Hà đã nhận khoản tiền trợ cấp mất việc làm do công ty chi trả.

Bà Hà có đơn khởi kiện đối với Công ty đến Tòa án nhân dân thành phố Sông Công với nội dung: Yêu cầu Tòa án hủy quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, buộc công ty phải nhận bà trở lại làm việc và phân công công việc đúng như nội dung thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã ký là văn thư, đánh máy hoặc làm công việc khác phù hợp với khả năng của mình; bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo quy định.

Tại bản án số 01/2015/LĐST ngày 18/11/2015 của TAND TP Sông Công- Thái Nguyên đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Hà đối với công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng khu công nghiệp Thái Nguyên.

Hủy quyết định số 187/QĐ-HTKCN ngày 27/4/2015 của công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng khu công nghiệp Thái Nguyên.

Buộc công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng khu công nghiệp Thái Nguyên phải nhận bà Trịnh Thị Hà trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã ký kết ngày 01/12/2003.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng khu công nghiệp Thái Nguyên có đơn kháng cáo, đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 17/5/2016 vụ án được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 275 BLTTDS, tuyên xử theo hướng chấp nhận một phần kháng cáo của  bị đơn, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận, quyết định giải quyết vụ án theo đề nghị của Kiểm sát viên.

 blld2013

II.Những nội dung cần rút kinh nghiệm

1.2- Quá trình thực hiện hợp đồng lao động giữa bà Trịnh Thị Hà với công ty: Ngày 01/12/2003 bà Hà ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với nội dung công việc là: Văn thư, đánh máy.

Do lượng công việc đánh máy ít, bà Hà được phân công kiêm nhiệm thêm một số nhiệm vụ khác như: Tạp vụ, thủ kho, thủ quỹ. Ngày 01/6/2010 bà Hà được phân công phụ trách Phòng hành chính, ngày 01/7/2010 được bổ nhiệm giữ chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức hành chính. Đến tháng 01/2012, do nhu cầu công tác nên công ty tuyển dụng người khác có trình độ Cao đẳng văn thư để đảm nhận công tác văn thư, lưu trữ thuộc Phòng tổ chức hành chính do bà Hà làm trưởng Phòng. Khi bổ nhiệm bà Trịnh Thị Hà giữ chức vụ Trưởng phòng, thực chất là có sự thay đổi nội dung công việc so với hợp đồng lao động đã ký kết trước đó, bà Hà hoàn toàn nhất trí và không có ý kiến gì, không có yêu cầu công ty ký phụ lục hợp đồng.

Thực hiện Quyết định số 1769/QĐ-UBND Ngày 10/8/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc thành lập công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên, tại Điều 1 Quyết định nêu: “Thành lập công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái nguyên trên cơ sở chuyển đổi công ty Phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên (đơn vị sự nghiệp)…”. Như vậy công ty đã có sự thay đổi cơ cấu, mô hình hoạt động từ đơn vị sự nghiệp thành công ty TNHH MTV. Đó là trường hợp thay đổi cơ cấu mô hình hoạt động theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính  phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

Do vậy các quy định của Bộ luật lao động điều chỉnh về quản lý, sử dụng lao động do công ty thay đổi cơ cấu mô hình hoạt động được ưu tiên áp dụng.

 Ngày 10/8/2013 Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên có quyết định số 1525/QĐ-UBND V/v: Quyết định bổ nhiệm giám đốc công ty giữ chức vụ Chủ tịch kiêm giám đốc công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên và có quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 16/9/2013 về việc: Phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty. Công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/10/2013.

Thực hiện chỉ đạo của Thường trực Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước UBND tỉnh Thái Nguyên, tại công văn số 1250a/SKHĐT-BĐM ngày 07/10/2013 nêu rõ: “Kể từ thời điểm UBND tỉnh có quyết định chuyển đổi công ty phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên (đơn vị sự nghiệp) thành công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên (doanh nghiệp 100% vốn nhà nước) thì tổ chức bộ máy, hoạt động của công ty phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên (đơn vị sự nghiệp) đương nhiên bị giải thể. Các chức danh quản lý của công ty phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên đương nhiên bị miễn nhiệm”.

Trường hợp bà Trịnh Thị Hà đương nhiên bị miễn nhiệm chức vụ Trưởng phòng tổ chức hành chính của công ty.

2.2- Xét điều kiện bổ nhiệm lại của bà Trịnh Thị Hà: Ngày 21/02/2014 công ty tổ chức Hội nghị cán bộ, CNV lao động để lấy phiếu tín nhiệm quy hoạch cán bộ đối với chức danh Trưởng phòng hành chính tổng hợp, bà Trịnh Thị Hà được 10/ 47 phiếu chiếm tỷ lệ 22,2% . Do có số phiếu tín nhiệm thấp nên bà Hà không được đưa vào diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý. Tại khoản 2 Điều 17 Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty ban hành kèm theo quyết định số 1805/QĐ-UBND ngày 16/9/2013 của UBND tỉnh Thái Nguyên quy định:

Điều 17. Bộ máy quản lý, giúp việc

2..Trưởng, phó các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ; các Giám đốc, Phó giám đốc xí nghiệp phải có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên theo chuyên ngành đào tạo phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao của đơn vị phụ trách…”.

Như vậy bà Hà không đủ điều kiện về mức độ tín nhiệm, không đủ điều kiện về bằng cấp chuyên môn nên công ty không xem xét bổ nhiệm lại chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với bà Hà, do đó bà Hà trở thành nhân viên của công ty.

Khi bà Hà giữ chức vụ Trưởng phòng, tháng 01/2012, công ty đã tuyển dụng người khác có trình độ Cao đẳng văn thư để đảm nhiệm công tác văn thư, lưu trữ. Do vậy với trình độ Trung cấp tin học (kỹ thuật viên tin học) công ty đã không thể sắp xếp được công việc cho bà Hà như hợp đồng lao động đã ký năm 2003 hoặc công việc khác phù hợp với chuyên môn của bà Hà, do đó bà Hà thuộc diện lao động dôi dư.

3.2-  Về thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động

Do có sự thay đổi cơ cấu mô hình hoạt động của công ty, làm ảnh hưởng đến việc làm của người lao động, bà Hà không đủ điều kiện để bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý và cũng không thể sắp xếp được công việc như trong hợp đồng lao động đã ký năm 2003, ngày 21/10/2013, lãnh đạo công ty phối hợp với BCH Công đoàn xây dựng phương án sử dụng lao động, trong đó bà Trịnh Thị Hà thuộc diện phải điều chỉnh nội dung công việc theo hợp đồng lao động. Công ty đã dự thảo phụ lục hợp đồng theo đó công việc chính bà Hà đảm nhiệm: “Làm tạp vụ cơ quan và công việc khác do lãnh đạo phòng Hành chính tổng hợp hoặc giám đốc công ty giao…” đề nghị bà Hà ký nhưng bà Hà không ký, với lý do không nhất trí với việc thay đổi nội dung công việc ghi trong phụ lục hợp đồng lao động.

Ngày 13/8/2014, Giám đốc công ty có quyết định số 311/QĐ-HTKCN về việc giao nhiệm vụ cho bà Trịnh Thị Hà với nội dung công việc làm tạp vụ. Không đồng ý với công việc được giao, bà Hà thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ thể hiện tại các biên bản họp phòng, biên bản họp xét xếp loại công A, B, C hàng tháng.

Việc công ty cố gắng sắp xếp công việc cho bà Hà là tạo điều kiện cho người lao động có việc làm và thu nhập; tại phiên hòa giải tranh chấp lao động ngày 20/8/2014 do Hòa giải viên lao động TP Sông Công tiến hành, đại diện cho công ty đã đồng ý và đề nghị phân công cho bà Trịnh Thị Hà thêm công tác theo dõi bảo hiểm xã hội để được hưởng ngạch lương nhân viên nghiệp vụ nhưng bà Hà không đồng ý. Như vậy công ty đã làm hết khả năng để ưu tiên tiếp tục sử dụng đối với bà Hà khi công ty có sự chuyển đổi cơ cấu mô hình hoạt động.

Việc công ty cho bà Hà thôi việc theo khoản 10 Điều 36 Bộ luật lao động là phù hợp với quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 44 Bộ luật lao động.

Từ những căn cứ pháp luật nêu trên nhận thấy việc ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng số 187/QĐ-HTKCN ngày 27/4/2015 của công ty TNHH MTV phát triển hạ tầng KCN Thái Nguyên là đúng theo quy định của pháp luật.

Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Hà, là không có cơ sở.

Thông qua công tác giải quyết vụ án, phòng 10 tổng hợp để các đồng chí cùng nghiên cứu tham khảo và rút kinh nghiệm chung.

                                                                                           Trịnh Đình Tân

Phó trưởng Phòng 10